• 24 bệnh trẻ em dưới 6 tuổi thường mắc phải

    Trẻ em dưới 6 tuổi phát triển chưa toàn diện, sức đề kháng còn yếu chính vì vậy dễ mắc một số bệnh nhất là khi thời tiết thay đổi. Một số bệnh có triệu chứng ban đầu khá giống nhau, gây dễ nhầm lẫn cho phụ huynh. Do đó, việc tìm hiểu kiến thức về bệnh trẻ em là vô cùng quan trọng. Mời quý phụ huynh tham khảo nội dung tổng hợp về các bệnh thường gặp ở trẻ dưới 6 tuổi trong bài viết sau đây.

    1. Bệnh tay chân miệng

    Bệnh chân tay miệng chủ yếu xuất hiện nhiều nhất ở những trẻ dưới 6 tuổi. Thời gian thông thường từ khi nhiễm trùng đến khi trẻ bắt đầu có các triệu chứng thời gian ủ bệnh là ba đến sáu ngày. Sốt cao sẽ thường là dấu hiệu đầu tiên của bệnh chân tay miệng, sau đó là đau họng và đôi khi là kém ăn và khó chịu. Một hoặc hai ngày sau khi sốt bắt đầu, vết loét đau có thể xuất hiện ở phía trước miệng hoặc cổ họng. Phát ban ở tay, chân và có thể ở mông có thể xuất hiện trong vòng một hoặc hai ngày. Các vết loét sẽ phát triển nhanh ở phía sau miệng và cổ họng có thể cho thấy rằng trẻ bị nhiễm một loại bệnh liên quan đến virus gọi là herpangina. Các đặc điểm khác biệt của virus herpangina gây ra bao gồm sốt cao đột ngột và trong một số trường hợp còn có thể co giật. Các vết loét phát triển trên tay, chân hoặc các bộ phận khác của cơ thể là rất hiếm thấy.

    1. Ho gà

    Ho gà là bệnh truyền nhiễm cấp tính qua đường hô hấp do trực khuẩn ho gà Bordetella pertussis gây nên. Bệnh có biểu hiện ho nhẹ ban đầu thường giống cảm lạnh, nhưng khi trở nặng người bệnh có thể ho rít từng cơn và nôn ói. Đối tượng thường bị ho gà tấn công chính là trẻ em.

    • Sau 1–2 tuần của giai đoạn sớm: bệnh bắt đầu tiến triển với các triệu chứng ho thành cơn, ho có tiếng rít cuối cơn, nôn ói, mệt mỏi. Các cơn ho bắt đầu mạnh & có thể lặp đi lặp lại. Thường có thể kéo dài 6–7 tuần.
    • Giai đoạn hồi phục: bệnh bắt đầu thuyên giảm, mất khoảng 2–3 tuần để trẻ phục hồi.(1
    1. Nhiễm tụ cầu/MRSA

    MRSA (viết tắt của tụ cầu kháng methicilin) là loại tụ cầu không đáp ứng với một số kháng sinh. Các bác sĩ cho biết MRSA hiện là nguyên nhân đầu bảng của nhiễm trùng da.

    Loại nhiễm trùng này thường biểu hiện ở dạng các nốt loét hoặc mụn thoạt trông giống như vết cắn của côn trùng. Nhiễm MRSA ở tai, mũi và họng cũng đang gia tăng ở trẻ độ tuổi tiểu học.

    1. Cúm

    Ở các nước châu Âu, cúm là bệnh nhiễm trùng thường gặp thứ hai ở trẻ em. Tại Việt Nam, bệnh cúm chưa thật sự được quan tâm đúng mức vì nhiều phụ huynh còn xem cúm là cảm lạnh thông thường. Các chủng virus gây bệnh cúm mùa thường gặp ở nước ta là cúm A/H3N2, A/H1N1 và cúm B. Bệnh cúm mùa thường diễn tiến lành tính, nhưng cũng có thể biến chứng nặng gây viêm phổi nặng, suy hô hấp và thậm chí tử vong. Biến chứng nặng thường gặp ở trẻ em (đặc biệt là trẻ dưới 6 tuổi), những người có bệnh lý mạn tính về tim mạch và hô hấp, người bị suy giảm miễn dịch, người trên 65 tuổi và phụ nữ có thai.

    Bệnh cảm cúm thường bị nhầm với cảm lạnh thông thường nhưng các triệu chứng của bệnh này thường nghiêm trọng hơn những dấu hiệu điển hình của cảm lạnh như hắt hơi, sổ mũi, nghẹt mũi.

    1. Rốn lồi ở trẻ sơ sinh

    Thường thì tình trạng lồi rốn nhẹ ở trẻ sẽ tự khỏi khi bé được hơn 1 tuổi, khi vùng bụng bé đã cứng cáp hơn, lỗ hổng ở bụng sẽ tự động đóng lại. Tuy nhiên, với những trường hợp rốn của trẻ lồi lên quá cao thì mẹ cần nhớ một số lưu ý sau để chăm sóc rốn trẻ sơ sinh mau chóng trở lại bình thường:

    • Massage nhẹ nhàng vùng bụng của bé mỗi ngày.
    • Giữ vệ sinh vùng rốn của bé bằng nước muối sinh lý và lưu ý lau khô ngay, không để rốn của bé thấm nước quá lâu.
    • Những khi mẹ thấy bé bắt đầu quấy khóc, vặn mình thì mẹ nên bé bé lên và dỗ dành bé để tránh tình trạng rốn lồi nhiều hơn.
    • Đối với những trẻ hay rặn nhiều khi đi đại tiện thì mẹ cần thay đổi chế độ dinh dưỡng của bé. Đặc biệt, bổ sung thêm nhiều chất xơ để bé đi ngoải dễ dàng hơn, vì nếu tránh được những cơn rặn mạnh sẽ giúp rốn bé đỡ bị lồi hơn.
    1. Viêm màng não ở trẻ em

    Đây là một bệnh lý nguy hiểm đặc trưng bởi phản ứng viêm của màng não − tủy. Bệnh thường do virus gây ra đối với viêm màng não vô khuẩn hay do vi khuẩn di chuyển qua máu từ vị trí nhiễm trùng tại một phần khác của cơ thể. Nhiễm nấm cũng có thể gây ra viêm màng não, nhưng điều này ít gặp hơn.

    Bệnh ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh từ 2−3 tháng tuổi được gọi là viêm màng não sơ sinh. Hiện tượng này dù nguyên nhân là do virus hoặc vi khuẩn thì cũng có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng và dẫn đến nguy cơ trẻ bị điếc, khiếm khuyết thần kinh và thậm chí là tử vong.

    1. Dị ứng thời tiết

    Dị ứng thời tiết không phải là bệnh nhiễm trùng mà là phản ứng của cơ thể với những tiểu phân rất nhỏ trong không khí, như phấn hoa. Triệu chứng có thể gồm hắt hơi, chảy nước mắt, chảy nước mũi hoặc ngạt mũi, có thể chỉ diễn ra vào mùa xuân hoặc mùa thu. Trẻ có thể thường lấy tay quệt mũi. Hiện chưa có cách chữa khỏi dị ứng thời tiết, nhưng có nhiều biện pháp giúp giảm nhẹ triệu chứng.

    1. Táo bón

    Táo bón là khi bé đi tiêu thưa thớt (dưới 3 lần mỗi tuần) hoặc đi tiêu khó khăn và gây ra sự khó chịu, căng thẳng khi đi tiêu (phân cứng, rặn đau, ngồi lâu, tiêu khó khăn, đôi khi chảy máu hậu môn…). Tuy nhiên số ngày đi đại tiện chỉ là một tiêu chí để nhận biết trẻ sơ sinh bị táo bón. Có trẻ 3 ngày đi một lần nhưng phân mềm xốp, trẻ đi dễ dàng thì chưa gọi là táo bón. Còn trẻ 1 đến 2 ngày đi một lần nhưng phân keo dính, trẻ phải rặn khó khăn thì vẫn là táo bón. Bệnh táo bón ở trẻ là tình trạng khoảng cách giữa hai lần đi ngoài quá lâu, phân rắn, khó bài xuất phân. Bình thường khoảng cách giữa hai lần đi ngoài tùy theo lứa tuổi.

    1. Rối loạn tiêu hóa

    Rối loạn tiêu hóa là một hội chứng được tạo ra bởi sự co thắt bất bình thường của các cơ vòng trong hệ tiêu hóa làm cơ thể đau bụng và thay đổi vấn đề đại tiện. Đây không phải là một căn bệnh dẫn đến tử vong mà “chỉ” là một hội chứng tuy khó chịu, nhưng hoàn toàn không nguy hiểm đến tính mạng. Tuy nhiên, khi bị rối loạn tiêu hóa, người bệnh sẽ gặp những bất tiện trong sinh hoạt do bị thay đổi về chuyện đại tiện, bị đầy hơi hoặc đau bụng.

    1. Nhiễm siêu vi

    Siêu vi là cách gọi tiếng Việt của một loại sinh vật rất nhỏ là virus. Trong những năm đầu đời, một đứa trẻ có sức đề kháng bình thường có thể bị nhiễm siêu vi từ 6-10 lần mỗi năm. Điều này làm cho các bà mẹ lo lắng vì nghĩ rằng con mình sức khỏe quá kém, ngày nào cũng bệnh. May mắn thay, những năm tiếp theo, số lần mắc bệnh sẽ giảm đi do hệ thống miễn dịch của bé ngày càng hoàn thiện hơn. Bên cạnh những biểu hiện chung của tình trạng nhiễm virus như sốt ( sốt có thể nhẹ hoặc rất cao), ho, hắt hơi, sổ mũi, mệt mỏi, chán ăn, quấy khóc, đau nhức người … tùy theo tác nhân gây bệnh bé sẽ có thêm một số dấu hiệu đặc trưng khác như chảy nước mắt, đỏ mắt, mắt có ghèn và nhạy cảm với ánh sáng, đau bụng, nôn ói, tiêu chảy, chảy máu mũi, chảy máu chân răng, có chấm xuất huyết trên da, nổi ban hay bóng nước…Ban do siêu vi thường xuất hiện sau khi sốt đã giảm và ở giai đoạn trẻ bắt đầu hồi phục.

    1. Đau mắt đỏ

    Đau mắt đỏ hay còn gọi là viêm kết mạc là một tình trạng nhiễm trùng mắt thường gặp ở trẻ nhỏ. Kết mạc là một lớp màng mỏng, trong suốt, bao phủ lớp mi trong và tròng trắng của mắt. Khi lớp màng này bị nhiễm trùng, tình trạng viêm kết mạc sẽ xảy ra. Nói cách khác, đau mắt đỏ là do các tế bào hồng cầu trong kết mạc bị viêm.

    1. Viêm tai

    Viêm tai giữa là bệnh lý phổ biến nhất trong các bệnh nhiễm trùng ở tai. Bệnh có thể gặp ở nhiều đối tượng khác nhau nhưng đặc biệt là trẻ nhỏ do các nguyên nhân sau:

    • Hệ miễn dịch của trẻ nhỏ chưa phát triển đầy đủ, không đủ sức chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn
    • Trẻ có cấu trúc tai chưa hoàn chỉnh. Tai trong của trẻ sẽ được kết nối với mặt sau của cổ họng thông qua ống thính giác. Bình thường ống thính giác mở cho phép chất lỏng và tạp chất thoát ra ngoài. Khi ống này bị đóng, các chất thải không thoát được và dẫn đến vi khuẩn sẽ kẹt lại bên trong tai, gây nhiễm trùng. Ống thính giác ở bé ngắn hơn người lớn nên dễ bị tắc.
    • Biến chứng của một số bệnh lý tai mũi họng như viêm, viêm VA, viêm amidan, viêm xoang..
    1. Sâu răng – Viêm lợi

    Sâu răng và viêm lợi là hai bệnh răng miệng khá phổ biến ở trẻ em. Trong đó, sâu răng chủ yếu do chế độ ăn có chất đường

    1. Nhiễm giun

    Nhiễm giun đường ruột là tình trạng khá phổ biến ở các nước đang phát triển trong vùng nhiệt đới, do khí hậu nóng ẩm, tập quán ăn uống, vệ sinh môi trường kém. Hậu quả của nhiễm giun đường ruột làm cho trẻ biếng ăn, chậm lớn, suy dinh dưỡng và thiếu máu.

    1. Sốt ban đỏ

    Bệnh sốt phát ban là một bệnh truyền nhiễm và có thể lây lan nhanh do tiếp xúc với dịch tiết ra từ nước mũi hoặc cổ họng người nhiễm bệnh trước khi biểu hiện ra những triệu chứng bệnh. Thời gian ủ bệnh thường là 7 ngày.

    Chứng sốt phát ban ở trẻ chủ yếu do virus gây ra, đặc biệt là virus đường hô hấp. Hệ miễn dịch của trẻ em ở giai đoạn 6 – 36 tháng tuổi còn non yếu nên virus rất dễ tấn công và bệnh thường xuất hiện nhiều lần ở trẻ.

    1. Hen suyễn ở trẻ

    Đây là một bệnh viêm mãn tính của đường thở. Tình trạng viêm này làm cho đường thở trở nên rất nhạy cảm với các chất kích thích khác nhau. Khi tiếp xúc với các chất kích thích này, đường thở (chủ yếu là phế quản) sẽ phù nề, co thắt, chứa đầy chất nhầy nên bị tắc nghẽn khiến cho bệnh nhân có cơn ho, khò khè, khó thở . Hen là bệnh có tính chất gia đình, di truyền và hoàn toàn không phải là bệnh lây lan, truyền nhiễm.

    1. Bệnh viêm cuống phổi

    Hay còn gọi là viêm tiểu phế quản, loại bệnh nhiễm trùng qua đường hô hấp này thường xuất hiện ở trẻ dưới 12 tháng tuổi. Các triệu chứng bao gồm ho, nghẹt mũi, sốt nhẹ, thở khò khè. Bệnh chủ yếu do RSV – một loại virus đặc biệt – gây nên, tuy nhiên, còn có nhiều loại virus khác nữa dẫn đến viêm tiểu phế quản. Tương tự cảm lạnh, các triệu chứng của viêm cuống phổi nhỏ trẻ em có xu hướng trở nặng giai đoạn đầu. Nhưng sau đó thì dần được cải thiện.

    Hầu hết trẻ đều tự hết nếu được chăm sóc tốt tại nhà, một số trường hợp nghiêm trọng phải nhập viện. Bệnh gây mất nước nghiêm trọng, cho nên, bố mẹ cần lưu ý bổ sung lại đủ lượng nước cho cơ thể bé khi mắc bệnh nhé. Đồng thời, giữ ấm cơ thể bé để hạn chế các cơn ho.

    1. Ngộ độc thức ăn

    Theo BSCKI Trần Quốc Long, ngộ độc thức ăn ở trẻ nhỏ thường xảy ra sau khi trẻ ăn hoặc uống một thứ gì đó, có thể trong vài phút, vài giờ, thậm chí có thể sau một ngày. Trẻ có những biểu hiện như: đau bụng đột ngột, buồn nôn hay nôn, có thể nôn ra thức ăn hay toàn nước, đi ngoài nhiều lần, phân lỏng, có thể lẫn máu.

    Ngộ độc thực phẩm ở mức độ nhẹ có thể chỉ làm trẻ bị mất nước, mệt mỏi, nhưng cũng có khi khiến trẻ gặp phải các biến chứng nguy hiểm như: suy gan, thận, thậm chí là tử vong. Với trẻ nhỏ, ngộ độc thực phẩm đặc biệt nguy hiểm, bởi lẽ: hệ tiêu hóa của trẻ chưa phát triển hoàn thiện nên dễ dẫn đến tổn thương về đường ruột, đồng thời, các cơ quản nội tạng khác khi bị ảnh hưởng cũng khó phục hồi chức năng hơn

    1. Tiêu chảy

    Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã công bố tiêu chảy là nguyên nhân rất phổ biến dẫn đến tử vong cho trẻ em tại các nước đang phát triển như Việt Nam. Biểu hiện đầu tiên của bệnh tiêu chảy ở trẻ em thường là đi tiêu phân lỏng nước, mùi hôi tanh. Bé thường biểu hiện mệt, quấy khóc nhiều, nôn… Số lần đi ngoài của trẻ có thể gấp đôi so với bình thường. Trẻ thường xuyên thấy đau thắt bụng, khó ngủ khi bị bệnh tiêu chảy.

    1. Sốt xuất huyết

    Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm do virus Dengue gây ra và muỗi vằn Aedes Aegypti là vật chủ lây truyền virus Dengue. Virus Dengue xâm nhập vào cơ thể người thông qua vết muỗi đốt từ những muỗi cái mang mầm bệnh. Sau thời gian ủ bệnh 4 – 10 ngày, muỗi mang virus có thể lây lan virus cho người trong suốt quãng đời còn lại của nó.

    Triệu chứng sốt xuất huyết ở trẻ em giai đoạn khởi phát điển hình là sốt. Do đó, nhiều bậc cha mẹ thường nhầm lẫn bé chỉ bị cúm hay nhiễm khuẩn đường hô hấp. Bé thường có biểu hiện sốt cao liên tục và đột ngột trên 38°C. Ngoài ra bé còn có các dấu hiệu bệnh sốt xuất huyết điển hình như: Quấy khóc, bỏ bú, chán ăn, buồn nôn, nôn trớ, mệt mỏi, sung huyết ở da (xuất huyết ở lỗ chân lông), chảy máu chân răng.

    Ở một số bé lớn hơn, bé có thể cho bạn biết con bị nhức đầu, đau hốc mắt, mệt mỏi, đau nhức khắp các cơ và khớp. Và đặc biệt, dấu hiệu mà bố mẹ dễ nhận biết nhất đó là tình trạng da sung huyết, xuất hiện những đốm đỏ dưới chân lông trẻ. Ngoài ra, một số bé còn bị xuất huyết đường tiêu hóa, nôn hay đi ngoài ra máu.

    1. Nhiễm trùng tiểu

    Nhiễm trùng tiểu là do vi trùng gây ra khi chúng xâm nhập vào nước tiểu. Hầu hết là do những vi trùng bình thường không gây hại gì khi ở trong ruột, nhưng chúng có thể gây nhiễm trùng một khi chúng xâm nhập vào những cơ quan khác của cơ thể. Một số vi trùng nằm xung quanh hậu môn sau khi đại tiện, đôi khi chúng có thể băng qua niệu đạo vào bàng quang. Các vi trùng này vào nước tiểu sinh sản nhanh chóng và gây nhiễm trùng tiểu. Nhiễm trùng thường chỉ ở bàng quang gọi là viêm bàng quang, nhưng chúng có thể đi cao hơn lên thận gây viêm thận. Nhiễm trùng nước tiểu thường được gọi chung là nhiễm trùng tiểu. Khoảng 1 trong 20 trẻ em trai và hơn 1 trong 10 trẻ em gái có ít nhất một lần bị nhiễm trùng tiểu khi chúng đến tuổi 16.

    1. Viêm họng

    Hầu hết trẻ đều có thể bị viêm họng, thường do virus gây cảm lạnh gây nên. Dấu hiệu của viêm họng bao gồm đau họng kéo dài hơn một tuần, đau hay khó nuốt, chảy nước dãi nhiều, phát ban, nốt đỏ, mủ ở mặt trong cổ họng, sốt hơn 38 độ C. Viêm họng điều trị bằng thuốc kháng sinh.

    1. Bệnh Thủy Đậu

    Bệnh thủy đậu (trái rạ): vẫn được xem là bệnh phổ biến ở trẻ em vì bệnh rất dễ lây lan cho trẻ qua con đường hô hấp. Theo ghi nhận của Viện Pasteur TP.HCM, bệnh thường xuất hiện theo mùa, tầm khoảng tháng 2 – tháng 6 hàng năm, tháng cao điểm nhất thường rơi vào tháng 4.

    1. Nhóm bệnh sởi – quai bị – Rubella:

    Cũng giống như bệnh trái rạ, nhóm bệnh này cũng rất dễ lây lan qua đường hô hấp, và được xem là nhóm bệnh “đến hẹn lại lên” vì bệnh cũng thường phổ biến vào tầm tháng 2 – tháng 6 hàng năm.

    Với bệnh sởi, nếu theo dõi và chăm sóc không đúng cách có thể gặp những biến chứng nguy hiểm đôi khi có thể dẫn đến tử vong. Bệnh quai bị có thể gây biến chứng “vô sinh” ở nam giới, bệnh Rubella nếu phụ nữ không may bị nhiễm trong thời kỳ mang thai có thể gây hội chứng Rubella bẩm sinh ở trẻ sơ sinh. Hiện tại bệnh cũng có thể phòng ngừa chủ động bằng vắc xin 3 trong 1.